CHÀO MỪNG QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE BAN THI ĐUA KHEN THƯỞNG TỈNH THÁI BÌNH                                                                                         ĐỒNG THUẬN CAO - THI ĐUA GIỎI - VỀ ĐÍCH SỚM
Tin mới cập nhật
Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, phương hướng đề ra
Phát biểu của đồng chí Đặng Trọng Thăng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh tại Kỳ họp thứ tám, HĐND tỉnh, khóa XVI

 
 
Số lượt truy cập:
 

Văn bản Trung ương
Một số điểm sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua-Khen thưởng năm 2013

Cập nhật: 08/08/2014

    Bài giảng của Đồng chí Trần Thị Hà-Thứ trưởng Bộ Nội vụ-Trưởng ban Thi đua-Khen thưởng Trung ương tại hội nghị tập huấn công tác thi đua khen thưởng năm 2014 tại Hà Nội tháng 7 năm 2014

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG NĂM 2013

 VÀ NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG DẪN THI HÀNH





                            Trần Thị Hà - Thứ trưởng Bộ Nội vụ,

                             Trưởng Ban TĐKT Trung ương

 

Phần thứ nhất

KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA, KHEN THƯỞNG TỪ NĂM 1945

ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG NĂM 2003

1. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954

Sau khi giành được chính quyền, để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ và kháng chiến chống thực dân Pháp, bên cạnh việc thực hiện các biện pháp để củng cố chính trị, kinh tế, xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến thi đua, khen thưởng. Nhiều phong trào thi đua đã được phát động như: Tuần lễ vàng, hũ gạo kháng chiến, bình dân học vụ…

- Ngày 26/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh ban hành 10 điều thưởng phạt, trong đó khẳng định: "Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công". Quốc lệnh nêu rõ 10 loại công việc và thành tích cần được kịp thời khen thưởng ngay, gồm:

“1- Nhà nào có 3 con tòng quân sẽ được thưởng; 2- Ai lập được quân công sẽ được thưởng; 3- Ai vì nước hy sinh sẽ được thưởng; 4- Ai ra trận can đảm phi thường sẽ được thưởng; 5- Ai làm việc công một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng; 6- Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc và được dân chúng mến phục sẽ được thưởng; 7- Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng; 8- Ai bắt được những kẻ phản quốc sẽ được thưởng; 9- Ai liều mình về việc công sẽ được thưởng; 10- Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng”.

- Trong giai đoạn này, cùng với việc ban hành Sắc lệnh số 83/SL ngày 17/9/1947 thành lập Viện Huân chương, Sắc lệnh số 195-SL ngày 01/6/1968 thành lập Ban vận động thi đua ái quốc trung ương và cấp cơ sở, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản quy định các hình thức khen thưởng, như: Sắc lệnh số 50-SL ngày 15/5/1947 của Chủ tịch nước đặt Huân chương Quân công, Huân chương Chiến sĩ, Sắc lệnh số 58-SL ngày 6/6/1947 của Chủ tịch nước đặt Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Sắc lệnh số 216-SL ngày 20/8/1948 của Chủ tịch nước đặt Huân chương kháng chiến; Sắc lệnh số 65b-SL ngày 01/5/1950 của Chủ tịch nước đặt Huân chương lao động…

- Thời kỳ này, hình thức văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng chủ yếu là các sắc lệnh, đã góp phần động viên nhân dân cả nước thi đua lao động sản xuất và chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược.

2. Giai đoạn từ 1954 đến 1975

Sau khi chiến thắng thực dân Pháp xâm lược, nước ta bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau: Miền Bắc bước vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân miền Nam cùng cả nước tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước. Đây là giai đoạn mà các phong trào thi đua được phát động và phát triển mạnh mẽ, với các phong trào thi đua như: "Sóng duyên hải" "Gió đại phong", "Cờ 3 nhất", "Trống Bắc lý", "Thanh niên ba sẵn sàng, Phụ nữ ba đảm đang", "Mỗi người làm việc bằng hai vì Miền Nam ruột thịt" "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược"…

- Trong giai đoạn này Nhà nước ta ban hành nhiều văn bản về thi đua, khen thưởng, quy định các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng, chính sách khen thưởng thành tích kháng chiến:

+ Về các hình thức khen thưởng có các văn bản: Sắc lệnh số 54-SL ngày 02/02/1958 của Chủ tịch nước đặt Huân chương và Huy chương Chiến thắng;  Pháp lệnh ngày 12/9/1961 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt Huân chương chiến sĩ vẻ vang, Thông tư số 29/TTg ngày 05/3/1961 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh ngày 12/9/1961...

+ Về thi đua và các danh hiệu thi đua có các văn bản: Nghị định số 104/CP ngày 18/7/1963 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ quy định các danh hiệu và tiêu chuẩn thi đua, Thông tư số 106/TTg của Phủ thủ tướng hướng dẫn áp dụng Nghị định số 104/CP, Nghị định số 80/CP của Phủ Thủ tướng về việc quy định chế độ thi đua, Nghị định số 19/CP ngày 03/2/1968 của Phủ thủ tướng về việc ban hành chính sách đối với Anh hùng, Chiến sĩ thi đua.

+ Về danh hiệu vinh dự nhà nước có các văn bản: Pháp lệnh ngày 15/01/1970 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt các danh hiệu vinh dự nhà nước "Anh hùng Lao động", "Anh hùng lực lượng vũ trang", Thông tư số 34-TTg ngày 11/3/1970 của Thủ tướng Chính phủ thi hành Pháp lệnh các danh hiệu vinh dự nhà nước…

Ngoài ra còn một loạt các văn bản quy định về chính sách khen thưởng thành tích trước cách mạng tháng 8 năm 1945, khen thưởng thành tích kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ được Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ban hành.

Các văn bản pháp luật về thi đua khen thưởng thời kỳ này được ban hành với số lượng tương đối nhiều, hình thức phong phú, nội dung rõ ràng và có tính quy phạm cao. Ngoài một số văn bản quy định về danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng, các văn bản pháp luật thời kỳ này chủ yếu để hướng dẫn khen thưởng thành tích kháng chiến. Ở miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định ban hành nhiều loại Huân chương, Huy chương, danh hiệu vinh dự nhà nước… tặng cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân miền Nam có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai.

3. Giai đoạn từ 1975 đến 2003

- Thời gian đầu khi đất nước mới thống nhất và thời kỳ trước đổi mới (năm 1986), công tác thi đua khen thưởng không được quan tâm nhiều, các văn bản chủ yếu quy định và hướng dẫn việc khen thưởng thành tích kháng chiến, cụ thể là: Thông tư số 184-TTg ngày 21/5/1975 hướng dẫn hoàn thành khen thưởng thành tích giúp đỡ cách mạng trước ngày tổng khởi nghĩa và thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp; Quyết định số 227-CP ngày 27/8/1977 của Hội đồng Chính phủ về việc xét khen thưởng thành tích kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở các tỉnh, thành phố phía Nam, Thông tư số 177-BT ngày 10/10/1978 của Phủ Thủ tướng khen thưởng những gia đình có người thân thoát ly tham gia vào hàng ngũ cách mạng, Nghị quyết 47-NQ/HĐNN7 ngày 19/9/1981 của Hội đồng Nhà nước ban hành điều lệ khen thưởng thành tích kháng chiến chống Mỹ; Pháp lệnh ngày 30/5/1985 của Hội đồng Nhà nước, quy định danh hiệu vinh dự nhà nước để tặng nghệ sĩ, nhà giáo và thầy thuốc, Lệnh số 16-LCT ngày 04/6/1985 của Chủ tịch nước công bố Pháp lệnh quy định Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, Nghị định số 247/HĐBT ngày 23/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng quy định cụ thể danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

- Sau năm 1986, cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, công tác thi đua, khen thưởng và pháp luật về thi đua, khen thưởng cũng có nhiều tiến bộ. Ngoài một số văn bản tiếp tục hướng dẫn khen thưởng kháng chiến, ngày 29/8/1994 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh quy định danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng", sau đó Chính phủ ban hành Nghị định số 176-CP ngày 20/10/1994 hướng dẫn thi hành pháp lệnh, đây là một chủ trương khen thưởng kháng chiến có ý nghĩa quan trọng của Nhà nước ta. Trong giai đoạn này, văn bản quan trọng có ý nghĩa chỉ đạo về công tác thi đua, khen thưởng là Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 3/6/1998 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới. Sau khi chỉ thị được ban hành, để thể chế hóa và triển khai thực hiện Chỉ thị, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/1998/NĐ-CP ngày 30/7/1998 quy định các hình thức, đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; cụ thể hóa tiêu chuẩn Huân chương Lao động…

Các văn bản pháp luật thời kỳ này tiếp tục thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta về khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến chống Mỹ, phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, khen gia đình có nhiều liệt sĩ hi sinh, tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước… Đặc biệt trong giai đoạn này, một số văn bản của Đảng ban hành hành chính sách khen thưởng đã được áp dụng và triển khai thực hiện mà không thể chế hóa về mặt Nhà nước, tiêu biểu là: Thông tri số 38-TT/TW ngày 25/10/1984 và Thông tri 19/TT/TW ngày 27/2/1998 của Ban Chấp hành Trung ương về việc khen thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Thông tri số 01/TT-TC/TW ngày 28/12/1996 của Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn truy tặng Huân chương bậc cao đối với người có công với nước đã hi sinh hoặc từ trần…    

 

Phần thứ hai

LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG NĂM 2003

VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG

 

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội chính thức thông qua Luật Thi đua, Khen thưởng, đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của công tác thi đua, khen thưởng từ sau ngày thành lập nước. Luật Thi đua, khen thưởng trở thành cơ sở pháp lý quan trọng góp phần ngày càng hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 

1. Cơ cấu, nội dung cơ bản của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003

a) Luật thi đua, khen thưởng có 103 điều, được chia thành 8 Chương, 9 mục, quy định về một số vấn đề chính, gồm:

- Tổ chức thi đua, danh hiệu và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua;

- Hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng;

- Thẩm quyền quyết định, trao tặng, thủ tục, hồ sơ đề nghị khen thưởng;

- Quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng;

- Xử lý vi phạm về thi đua, khen thưởng.

b) Nội dung cụ thể như sau:

- Chương 1.  Những quy định chung, gồm 14 điều (từ Điều 1 đến Điều 14) quy định về đối tượng, phạm vi, mục tiêu của thi đua; nguyên tắc thi đua; danh hiệu thi đua; các hình thức khen thưởng; căn cứ xét tặng danh hiệu thi đua, khen thưởng; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Vịêt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác trong việc tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng; các hành vi bị cấm.

Chương 2. Quy định về tổ chức thi đua, danh hiệu và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua, gồm  17điều (từ Điều 15 đến Điều 31).

- Chương 3. Hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng, gồm 7 mục với 45 điều (từ Điều 32 đến Điều 76).

- Chương 4. Quy định về thẩm quyền quyết định, trao tặng, thủ tục, hồ sơ đề nghị khen thưởng, gồm 2 mục với 10 điều (từ Điều 77 đến Điều 86).

- Chương 5. Quy định về quyền và nghĩa vụ cá nhân, tập thể được khen thưởng, gồm 3 điều (từ Điều 87 đến Điều 89).

- Chương 6. Quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng,  gồm 6 điều (từ Điều 90 đến Điều 95).

- Chương 7. Xử lý vi phạm gồm 3 điều (từ Điều 96 đến Điều 98).

- Chương 8. Điều khoản thi hành, gồm 5 điều (từ Điều 99 đến Điều 103).

2. Đánh giá tình hình thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003

a) Những kết quả đạt được

Luật Thi đua, Khen thưởng ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong phạm vi cả nước. Sau hơn 09 năm thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng đã cơ bản đáp ứng được công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán lý nhà nước về thi đua, khen thưởng, việc tổ chức các phong trào thi dua và thực hiện chính sách khen thưởng, cụ thể:

- Thứ nhất, Luật Thi đua, Khen thưởng là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng và tăng cường hiệu lực công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng.

+ Sau khi Luật Thi đua - Khen thưởng có hiệu lực ngày 1/7/2004, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng ngày 14/6/2005 (sửa đổi, bổ sung một điều về Tỉnh Anh hùng, Thành phố Anh hùng).

+ Chính phủ ban hành:  Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng (hiện đã được thay thế bằng Nghị định định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010), Nghị định số 122/2005/NĐ-CP ngày 04/10/2005 quy định tổ chức làm công tác thi đua, khen thưởng; Nghị định số 50/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 quy định mẫu Huân chương, Huy chương, Huy hiệu, Bằng Huân chương, Bằng Huy chương, Cờ Thi đua, Bằng khen, Giấy khen.

+ Văn phòng Chính phủ ban hành Thông tư số 01/2007/TT-VPCP ngày 31/7/2007 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 121/2005/NĐ-CP của Chính phủ, (hiện nay đã được thay thế bằng Thông tư 02/2011/TT-BNV ngày 24/01/2011 của Bộ Nội vụ).

- Thứ hai, Luật Thi đua, Khen thưởng quy định rõ thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp, các ngành và lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương, nâng cao trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ khi có Luật Thi đua, Khen thưởng, nhận thức về vị trí, vai trò, tác dụng của công tác thi đua, khen thưởng trong cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành và nhân dân đã được nâng lên. Việc triển khai thực hiện công tác thi đua, khen thưởng đã được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng tích cực tham gia, ủng hộ. Lãnh đạo một số bộ, ban, ngành, địa phương đã trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra phong trào thi đua; tổ chức ký giao ước thi đua, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện sơ kết, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân có thành tích; qua đó, phong trào thi đua đã có những tác dụng thiết thực, trở thành động lực thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng bộ, ngành, địa phương.

- Thứ ba, Luật Thi đua, Khen thưởng quy định đối tượng, nguyên tắc, phạm vi, nội dung, hình thức các danh hiệu thi đua; hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng; thẩm quyền quyết định khen thưởng và đề nghị khen thưởng, thủ tục, hồ sơ đề nghị khen thưởng… tạo cơ sở cho các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện tốt phong trào thi đua và công tác khen thưởng; là cơ sở pháp lý tạo sự thống nhất, bình đẳng trong công tác khen thưởng, khắc phục bệnh thành tích, nâng cao rõ rệt chất lượng khen thưởng.

- Thứ tư, Luật Thi đua, Khen thưởng đã kế thừa và phát huy truyền thống thi đua yêu nước, đạo lý uống nước nhớ nguồn, xây dựng nền văn hóa, lịch sử lâu đời của dân tộc; đồng thời có tác dụng to lớn nhằm động viên, giáo dục, nêu gương trong các tầng lớp nhân dân; đáp ứng yêu cầu hợp tác phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế…

b) Những tồn tại, hạn chế:

 Bên cạnh những kết quả đạt được, sau hơn 9 năm thực hiện, Luật Thi đua, Khen thưởng cũng bộc lộ một số hạn chế, đó là:

- Thứ nhất, nội dung của Luật chủ yếu tập trung điều chỉnh đối với các cơ quan, tổ chức khu vực nhà nước và cán bộ, công chức. Vì vậy, khi triển khai thực hiện việc khen thưởng cho công nhân, nông dân và người lao động trực tiếp còn nhiều hạn chế; khen thưởng nhiều cho cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý.

- Thứ hai, Tiêu chuẩn các danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng chưa hợp lý, dẫn đến việc khen thưởng bị trùng lắp, chồng chéo và có nhiều vướng mắc trong mối quan hệ về thẩm quyền khen thưởng giữa quản lý nhà nước theo ngành nghề, với quản lý nhà nước theo địa phương, lãnh thổ, cụ thể là:

+ Cùng một đối tượng là tập thể hoặc cá nhân của một đơn vị cấp tỉnh (các sở, ngành thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh), trong một năm có thể vừa được khen thưởng của Ủy ban nhân dân tỉnh đó, vừa được khen thưởng của Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực. Hoặc có sự phân chia trong cơ quan, đơn vị để một số tập thể, cá nhân đề nghị khen thưởng của Ủy ban nhân dân tỉnh, một số tập thể, cá nhân đề nghị khen thưởng của cấp Bộ, ngành.

+ Tiêu chuẩn tặng thưởng một số loại Huân chương (Huân chương Lao động, Huân chương bảo vệ tổ quốc…) đều căn cứ vào danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng đã tặng cho tập thể, cá nhân. Như vậy một thành tích của tập thể, cá nhân vừa được tặng danh hiệu thi đua, vừa là căn cứ để quyết định hình thức khen thưởng, tạo nên sự trùng lặp trong khen thưởng (ví dụ: Điểm a, Khoản 1, Điều 44 Luật Thi đua, Khen thưởng quy định tiêu chuẩn xét tặng Huân chương Lao động hạng ba cho cá nhân là: Có 7 năm liên tục đạt danh hiệu "Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở" và có hai lần được tặng Bằng khen cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương hoặc một lần được tặng "Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ". Như vậy, một cá nhân khi được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba thì trước đó đã được tặng rất nhiều các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng).

 - Thứ ba, Luật Thi đua, Khen thưởng chưa mở rộng thẩm quyền xét tặng danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng phù hợp ở các cấp, các ngành để có cơ sở tổ chức phát động phong trào thi đua rộng khắp trong cả nước; một mặt đảm bảo khen thưởng kịp thời, mặt khác tránh tình trạng khen thưởng dồn lên cấp nhà nước và đảm bảo nguyên tắc hình thức khen thưởng càng cao, số lượng càng giảm.

- Thứ tư, việc đề nghị các hình thức khen thưởng cấp nhà nước đang được thực hiện theo quy trình, thủ tục từ cấp cơ sở lên, qua nhiều cấp, thủ tục hành chính nặng nề, phát sinh nhiều kẽ hở trong quản lý và khó kiểm soát đánh giá được thành tích thực tế để khen thưởng...

Từ những tồn tại, hạn chế nêu trên và xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan khác (như: Sự phát triển của kinh tế - xã hội, yêu cầu trong xây dựng nhà nước pháp quyền, chủ động hội nhập quốc tế…) cho thấy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, Khen thưởng 2003 là cần thiết, nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và tăng cường công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng.

 

Phần thứ ba

NHỮNG NỘI DUNG MỚI CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA

LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG VÀ NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH

 

Ngày 16 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2014.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng có 02 điều: Điều 01 sửa đổi, bổ sung 48 điều và tên Chương IV và Chương V của Luật Thi đua, Khen thưởng; Điều 02 quy định hiệu lực thi hành và giao cho Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật này.

Luật đã thể hiện cơ bản các quan điểm theo định hướng đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, nội dung sửa đổi, bổ sung tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:

I. NÂNG CAO TIÊU CHUẨN ĐỐI VỚI DANH HIỆU THI ĐUA VÀ CÁC HÌNH THỨC KHEN THƯỞNG

1. Đối với danh hiệu thi đua:

a) Danh hiệu chiến sĩ thi đua các cấp :

- Về danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc: Tại Điều 21 được sửa đổi, bổ sung là “được xét tặng cho cá nhân có thành tích tiêu biểu xuất sắc nhấtđược lựa chọn trong số những cá nhân có hai lần liên tục đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương” (Luật 2003 không có từ “nhất”).

- Việc xem xét phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua các cấp đều phải căn cứ vào hiệu quả và mức độ ảnh hưởng của sáng kiến, đề tài khoa học hoặc sự mưu trí, sáng tạo của cá nhân. Vì vậy Khoản 2 Điều 23 được sửa đổi, làm rõ về sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học và sự mưu trí sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, để áp dụng xét phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua các cấp.

Sáng kiến, đề tài khoa học của cá nhân phải được ứng dụng trong thực tiễn và mang lại hiệu quả trong công tác, học tập, lao động sản xuất. Sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu phải là yếu tố quan trọng góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

- Điều 3 và Điều 4 Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật quy định:

+ Sáng kiến, đề tài khoa học hoặc sự mưu trí, sáng tạo đạt hiệu quả cao và phạm vi ảnh hưởng trong toàn quốc, thì được xét tặng danh hiệu danh hiệu "Chiến sĩ thi đua toàn quốc".

Sáng kiến, đề tài khoa học hoặc sự mưu trí, sáng tạo đạt hiệu quả cao và phạm vi ảnh hưởng trong phạm vi Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương, thì được xét tặng danh hiệu danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương.

Sáng kiến, đề tài khoa học hoặc sự mưu trí, sáng tạo đạt hiệu quả cao và phạm vi ảnh hưởng trong cơ quan, đơn vị thì được xét tặng danh hiệu danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở.

- Việc xem xét, công nhận mức độ ảnh hưởng của sáng kiến, đề tài khoa học hoặc sự mưu trí, sáng tạo do Hội đồng sáng kiến, Hội đồng khoa học hoặc Hội đồng Thi đua - Khen thưởng của từng cấp thực hiện.

+ Hội đồng sáng kiến, Hội đồng khoa học cấp cơ sở do Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cơ sở", quyết định thành lập. Thành phần Hội đồng gồm những thành viên có trình độ chuyên môn về lĩnh vực có liên quan đến nội dung sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học và các thành viên khác (nếu cần thiết).

Hội đồng sáng kiến, Hội đồng khoa học cấp cơ sở có trách nhiệm giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét, công nhận và đánh giá mức độ ảnh hưởng của sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học.

Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp cơ sở có trách nhiệm giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét, công nhận mức độ ảnh hưởng của sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

b) Danh hiệu Cờ Thi đua của Chính phủ” 

- Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 25 của Luật quy định một trong các tiêu chuẩn để được tặng Cờ thi đua của Chính phủ đó là: “Là tập thể tiêu biểu xuất sắc nhất trong phong trào thi đua của cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương”, nhằm khẳng định tính tiêu biểu xuất sắc nhất của các tập thể được tặng “Cờ Thi đua của Chính phủ”, hạn chế việc khen thưởng nhiều và tràn lan đối với danh hiệu này.

- Điều 6 Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật quy định :

“Cờ thi đua của Chính phủ” được xét tặng cho các tập thể sau:

1. Các tập thể xuất sắc nhất trong tổng số tập thể xuất sắc đạt tiêu chuẩn Cờ thi đua cấp bộ, ngành, đoàn thể trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

 2.Các bộ, ngành, đoàn thể trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươngdẫn đầu phong trào thi đua của các cụm, khối thi đua do Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương tổ chức.

 3. Các tập thể tiêu biểu nhất trong phong trào thi đua theo chuyên đề do Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ phát động được đánh giá khi sơ kết, tổng kết từ 05 năm trở lên.

2. Đối với hình thức khen thưởng

a) Không lấy danh hiệu thi đua làm tiêu chuẩn xét tặng các hình thức khen thưởng đối với cá nhân.

- Đây là một trong những nội dung quan trọng được sửa đổi, bổ sung trong hầu hết các tiêu chuẩn để xét tặng các loại Huân chương và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, nhằm khắc phục tình trạng khen nhiều, khen chồng chéo, trùng lắp, khen thưởng theo định kỳ.

- Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2013: Khen thưởng sẽ thực hiện theo công trạng và thành tích đạt được (Điều 4). Nếu cá nhân lập được thành tích, thì tùy vào mức độ và phạm vi ảnh hưởng của thành tích để xem xét khen thưởng theo từng hình thức phù hợp và tương xứng với thành tích đạt được.

- Khuyến khích khen thưởng cho các cá nhân, tập thể có nhiều sáng tạo, có thành tích đặc biệt xuất sắc: Nội dung này được thể hiện trong các điều 42, 43, 44 về Huân chương Lao động, điều 45, 46, 47 Huân chương bảo vệ tổ quốc; Điều 71 về Bằng khen Thủ tướng Chính phủ; Điều 72 về Bằng khen cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương (đối với tập thể); Điều 75 về giấy khen.

b) Nâng thời gian xét tặng thưởng Huân chương Độc lập các hạng, Huân chương Quân công các hạng, Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, các Danh hiệu vinh dự nhà nước, Huy chương chiến sĩ vẻ vang

- Quy định thời gian xét khen thưởng từ Huân chương Lao động lên Huân chương Độc lập, từ Huân chương Bảo vệ Tổ quốc lên Huân chương Quân công và từ Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công lên Huân chương Hồ Chí Minh đối với tập thể là 10 năm thay cho 05 năm như hiện nay (quy định tại khoản 2 các điều 35, 36, 37, 38, 39, 40 và 41)

- Quy định thời gian xét khen thưởng từ Huân chương Hồ Chí Minh lên Huân chương Sao vàng cho tập thể là 25 năm, thay cho 10 năm như hiện nay (khoản 2, điều 34)

- Không quy định việc tặng thưởng Huân chương Sao vàng lần thứ hai đối với tập thể, mà chỉ quy định tặng việc tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai, đồng thời nâng thời gian xét tặng Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai lên 15 năm tại khoản 3, điều 35 (trước đây Nghị định 42/2010/NĐ-CP quy định là 10 năm).

- Tăng thời gian xét tặng thưởng các danh hiệu “Nhà giáo”, “Thầy thuốc”, “Nghệ sỹ”, “Nghệ nhân” nhân dân, ưu tú là 03 năm/01 lần thay cho 02 năm/lần như hiện nay. Tăng thời gian xét tặng Giải thưởng Nhà nước là 05 năm/01 lần thay cho 02 năm như hiện nay.

- Về thời điểm xét, đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng (Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động) là năm năm một lần thay cho xét hàng năm như hiện nay.

- Tăng tiêu chuẩn về thời gian (05 năm) đối với Huy chương chiến sĩ vẻ vang các hạng, cụ thể: Hạng nhất 20 năm trở lên, hạng nhì từ 15 đến dưới 20 năm, hạng ba từ 10 đến 15 năm (Khoản 2, điều 56) (Luật năm 2003 là: Hạng nhất 15 năm trở lên, hạng nhì 10 năm trở lên và hạng ba 05 năm trở lên)

II. QUY ĐỊNH RIÊNG ĐỐI TƯỢNG VÀ TIÊU CHUẨN DANH HIỆU THI ĐUA, HÌNH THỨC KHEN THƯỞNG CHO CÔNG NHÂN, NÔNG DÂN, NGƯỜI LAO ĐỘNG

1. Quy định riêng tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến” cho đối tượng là công nhân, nông dân, người lao động, đạt các tiêu chuẩn sau (Khoản 3, điều 24): Lao động sản xuất có hiệu quả, tích cực tham gia phong trào thi đua và hoạt động xã hội; Gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, có đạo đức, lối sống lành mạnh, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng.    

2. Quy định riêng tiêu chuẩn tặng thưởng Huân chương Lao động các hạng, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương cho đối tượng là công nhân, nông dân người lao động, cụ thể :

a) Huân chương Lao động hạng nhất (khoản 2, điều 42): Công nhân, nông dân, người lao động có phát minh, sáng chế, sáng kiến được ứng dụng thực tiễn có hiệu quả được cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương công nhận.

Khoản 2, điều 15, Nghị định quy định chi tiết thi hành luật quy định:

"Huân chương Lao động" hạng nhất để tặng cho công nhân, nông dân, người lao động gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước… có phát minh, sáng chế, sáng kiến được ứng dụng trong thực tiễn mang lại hiệu quả và được cấp bộ, ngành, đoàn thể trung ương công nhận.

- Đối với công nhân có 07 phát minh, sáng chế, sáng kiến mang lại lợi ích và có đóng góp trong việc đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề.

- Đối với nông dân có phát minh, sáng chế, sáng kiến hoặc có mô hình sản xuất hiệu quả và ổn định từ 07 năm trở lên, giúp đỡ nhiều hộ nông dân thoát nghèo và tạo việc làm cho người lao động.

b) Huân chương Lao động hạng nhì (khoản 1, điều 43): Công nhân, nông dân, người lao động có phát minh, sáng chế, sáng kiến được ứng dụng thực tiễn có hiệu quả được cấp tỉnh công nhận.

Khoản 2, điều 16, Nghị định quy định chi tiết thi hành luật quy định:

"Huân chương Lao động" hạng nhì để tặng cho công nhân, nông dân, người lao động gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có phát minh, sáng chế, sáng kiến đã được ứng dụng trong thực tiễn mang lại hiệu quả được cấp tỉnh công nhận.

- Công nhân có 05 sáng kiến mang lại lợi ích và có đóng góp trong việc đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề.

- Nông dân có phát minh, sáng chế, sáng kiến hoặc có mô hình sản xuất hiệu quả và ổn định từ 05 năm trở lên và đã giúp đỡ các hộ nông dân khác xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động.

c) Huân chương Lao động hạng ba (Khoản 1, Điều 44): Công nhân, nông dân, người lao động có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất hoặc sáng kiến được ứng dụng hiệu quả được cấp huyện công nhận. 

Khoản 2, điều 17, Nghị định quy định chi tiết thi hành luật quy định:

"Huân chương Lao động" hạng ba để tặng cho công nhân, nông dân, người lao động gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có sáng kiến đã được ứng dụng trong thực tiễn mang lại hiệu quả có phạm vi ảnh hưởng trong cấp huyện, được cấp huyện công nhận.

- Đối với công nhân có 03 sáng kiến mang lại lợi ích và có đóng góp trong việc đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề.

- Đối với nông dân có sáng kiến hoặc có mô hình sản xuất hiệu quả và ổn định từ 03 năm trở lên, giúp đỡ các hộ nông dân khác xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động.

d) Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (Khoản 1, Điều 71): Công nhân, nông dân, người lao động có nhiều thành tích ảnh hưởng trong cấp huyện hoặc tương đương.

Khoản 2, điều 23, Nghị định quy định chi tiết thi hành luật quy định:

 “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ” tặng cho công nhân, nông dân, người lao động gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạt một trong các tiêu chuẩn sau:

a) Lập được nhiều thành tích hoặc thành tích đột xuất trong trong lao động, sản xuất có phạm vi ảnh hưởng trong địa bàn cấp huyện.

b) Đối với công nhân có từ 02 sáng kiến trở lên mang lại lợi ích và có đóng góp trong việc đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề.

c) Đối với nông dân có mô hình sản xuất hiệu quả và ổn định từ 02 năm trở lên, giúp đỡ hộ nông dân xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động.

e) Bằng khen cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương (Khoản 1 Điều 72): Công nhân, nông dân, người lao động có nhiều thành tích ảnh hưởng trong cấp xã, cơ quan đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã.

g) Giấy khen (Khoản 1, Điều 75): Hoàn thành tốt nghĩa vụ công dân, có phẩm chất đạo đức tốt, đoàn kết, gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nươc...

Ngoài các quy định riêng nêu trên, nếu công nhân, nông dân, người lao động đạt được thành tích theo quy định chung thì vẫn được khen thưởng như các đối tượng khác

III. THỰC HIỆN PHÂN CẤP VỀ THẨM QUYỀN VÀ BÔ SUNG TƯỢNG ĐỐI VỚI MỘT SỐ DANH HIỆU THI ĐUA VÀ HÌNH THỨC KHEN THƯỞNG

1. Thực hiện phân cấp về thẩm quyền 

a) Quy định thẩm quyền được ban hành “Cờ Thi đua” và Bằng khen của cấp Quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an : Giao cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định sau khi thống nhất với cơ quan quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng ở trung ương (Khoản 3, Điều 31 và khoản 2, Điều 73).

b) Quy định việc khen thưởng bằng hình thức Bằng khen của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở cấp tỉnh do cơ quan Trung ương của các tổ chức này quy định (Khoản 1, điều 73).

c) Bổ sung thẩm quyền tặng Huy hiệu đối với tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Điều 69).

d) Giao Chính phủ quy định thẩm quyền công nhận danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”, “Tập thể lao động xuất sắc” trong quân đội nhân dân (Điều 79).

- Khoản 1, điều 26, Nghị định quy định chi tiết thi hành luật quy định: Thủ trưởng cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng quyết định tặng danh hiệu "Đơn vị quyết thắng", "Tập thể lao động xuất sắc".

 e) Quy định thẩm quyền được tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến” của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đối với các cá nhân thuộc phạm vi quản lý của cấp xã (Khoản 3 Điều 80).

g) Quy định thẩm quyền tặng thưởng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”, “ Lao động tiên tiến”, “Tập thể lao động tiên tiến” và giấy khen của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp, hợp tác xã (Khoản 4 Điều 80).

2. Bổ sung đối tượng đối với một số hình thức khen thưởng

a) Bổ sung đối tượng để tặng thưởng Huân chương Sao vàng là nguyên thủ quốc gia nước ngoài có công lao to lớn đối với đất nước Việt Nam (khoản 4, điều 32), để phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay và phát triển quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.

b) Mở rộng đối tượng được tặng, truy tặng các hình thức Huy chương cho cá nhân là công chức, viên chức, công nhân làm việc trong lực lượng vũ trang (Điều 52).

c) Mở rộng đối tượng được tặng thưởng “Huy chương chiến sĩ vẻ vang đối với những người làm việc ở vùng biển, đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (khoản 3, điều 56).

- Điều 21, Nghị định quy định chi tiết thi hành luật quy định:

 “Huy chương chiến sĩ vẻ vang” đối với cá nhân có thời gian làm nhiệm vụ ở vùng biển, đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thực hiện như sau:

1. Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng thuộc Quân đội nhân dân và sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân, viên chức thuộc Công an nhân dân, thời gian công tác được nhân hệ số 2 để tính thời gian xét tặng “Huy chương Chiến sĩ vẻ vang” các hạng.

2. Hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc Quân đội nhân dân thời gian công tác đủ 01 năm trở lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ thì được xét tặng “Huy chương Chiến sĩ vẻ vang” hạng ba.

3. Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc Quân đội nhân dân hy sinh và được công nhận liệt sĩ, nếu thời gian làm nhiệm vụ chưa đủ 01 năm thì được xét truy tặng “Huy chương Chiến sĩ vẻ vang” hạng ba; nếu thời gian làm nhiệm vụ từ 01 năm trở lên thì được xét truy tặng “Huy chương Chiến sĩ vẻ vang” hạng nhì.

d) Bổ sung đối tượng “Hộ gia đình” được tặng thưởng bằng khen Thủ tướng Chính phủ, bằng khen của Chủ tịch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bằng khen cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương và Giấy khen (Khoản 3 Điều 73 , Khoản 4 Điều 76)

Nghị định quy định chi tiết thi hành luật quy định:

- "Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ" để tặng cho gia đình gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có đóng góp lớn về công sức, đất đai và tài sản cho địa phương, xã hội có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên (Khoản 4, điều 23).

- Bằng khen cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương để tặng cho gia đình gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có nhiều đóng góp về công sức, đất đai và tài sản cho địa phương, xã hội (Khoản 4, điều 24).

- Giấy khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để tặng chogia đình gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có đóng góp về công sức, đất đai và tài sản cho địa phương, xã hội (khoản 2, điều 25).

e) Mở rộng đối tượng được tặng thưởng Huy chương Hữu nghị là người nước ngoài có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng và bản vệ tổ quốc Việt Nam (Điều 57) (Luật năm 2003 quy định người nước ngoài có thời gian làm việc tại Việt Nam)

IV. QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU VÀ BỔ SUNG ĐIỀU 91A QUY ĐỊNH VỀ HỘI ĐỒNG THI ĐUA - KHEN THƯỞNG CÁC CẤP

1. Về trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác thi đua khen thưởng

Khoản 4, điều 83 quy định trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác thi đua, khen thưởng, như sau:

- Chịu trách nhiệm về quyết định khen thưởng của cấp mình và việc trình cấp trên khen thưởng;

- Có trách nhiệm phát hiện, xây dựng điển hình tiên tiến là công nhân, nông dân, người lao động ở các thành phần kinh tế để khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng;

2. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương:

Theo quy định tại Điều 91a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và điều 27, Nghị định quy định chi tiết thi hành:

a) Vị trí, chức năng: Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương là cơ quan tham mưu, tư vấn cho Đảng và Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng.

b) Thành phần: Chủ tịch Hội đồng là Thủ tướng Chính phủ.

Các Phó Chủ tịch Hội đồng: Phó Chủ tịch nước là Phó Chủ tịch thứ Nhất; Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương là Phó Chủ tịch Thường trực; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là Phó Chủ tịch.

Hội đồng có từ 13 đến 15 ủy viên là đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương.

c) Các nhiệm vụ, quyền hạn:

- Thực hiện sự phối hợp giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể trung ương và các địa phương trong việc tham mưu, đề xuất chủ trương, chính sách về tổ chức phong trào thi đua và công tác thi đua, khen thưởng trong phạm vi cả nước;

- Tham mưu, tư vấn cho cấp có thẩm quyền quyết định phong tặng danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng;

- Định kỳ đánh giá phong trào thi đua và công tác khen thưởng; kiến nghị, đề xuất chủ trương, biện pháp đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; tham mưu tổng kết công tác thi đua, khen thưởng; đề xuất sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách về thi đua, khen thưởng; kiểm tra, giám sát công tác thi đua, khen thưởng.

d) Cơ quan thường trực, giúp việc: Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương là cơ quan thường trực, giúp việc cho Hội đồng

2. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp bộ (Điều 28, Nghị định quy định chi tiết thi hành luật)

a) Vị trí, chức năng: Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp bộ, ban, ngành, đoàn thể ở trung ương là cơ quan tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, ban, ngành, đoàn thể ở trung ương về công tác thi đua, khen thưởng.

b) Thành phần: 

- Chủ tịch Hội đồng là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương.

- Hội đồng có từ 13 đến 15 thành viên, trong đó có từ 03 đến 04 Phó Chủ tịch. Vụ trưởng Vụ Thi đua - Khen thưởng là Phó Chủ tịch Thường trực. Đối với những bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương chưa thành lập Vụ Thi đua - Khen thưởng thì Trưởng Phòng (Ban) Thi đua - Khen thưởng là Ủy viên Thường trực Hội đồng. Các Phó Chủ tịch khác và các ủy viên do Chủ tịch Hội đồng quyết định.

- Thành phần Hội đồng Thi đua - Khen thưởng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định.

c) Nhiệm vụ, quyền hạn :

- Tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng các ban, ngành, tổ chức, đoàn thể ở trung ương phát động các phong trào thi đua

- Định kỳ đánh giá kết quả phong trào thi đua và công tác khen thưởng; tham mưu việc sơ kết, tổng kết công tác thi đua, khen thưởng; kiến nghị, đề xuất các chủ trương, biện pháp đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong từng năm và từng giai đoạn.

- Tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng các ban, ngành, tổ chức, đoàn thể ở trung ương kiểm tra, giám sát các phong trào thi đua và thực hiện các quy định về thi đua, khen thưởng.  

- Tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng các ban, ngành, tổ chức, đoàn thể ở trung ương quyết định tặng danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền khen thưởng.

      d) Cơ quan thường trực: Vụ (Phòng, Ban) Thi đua - Khen thưởngcủa các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở trung ương là thường trực của Hội đồng.

3. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp tỉnh (Điều 29, Nghị định quy định chi tiết thi hành luật)

a) Vị trí, chức năng: Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp tỉnh là cơ quan tham mưu cho cấp ủy Đảng và chính quyền về công tác thi đua, khen thưởng của địa phương.

b) Thành phần:

- Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Hội đồng có từ 13 đến 15 ủy viên, trong đó có từ 03 đến 04 Phó Chủ tịch. Phó Giám đốc sở, Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng cấp tỉnh là Phó Chủ tịch Thường trực. Các Phó Chủ tịch khác và các ủy viên do Chủ tịch Hội đồng quyết định.

c) Nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Tham mưu cho Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh ở trung ương phát động các phong trào thi đua.

- Định kỳ đánh giá kết quả phong trào thi đua và công tác khen thưởng; tham mưu việc sơ kết, tổng kết công tác thi đua, khen thưởng; kiến nghị, đề xuấtcác chủtrương, biện pháp đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong từng năm và từng giai đoạn.

- Tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiểm tra, giám sát các phong trào thi đua và thực hiện các quy định về thi đua, khen thưởng.  

- Tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phong tặng các danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng theo thẩm quyền và trình cấp trên khen thưởng 

      d) Cơ quan thường trực:Ban Thi đua - Khen thưởng cấp tỉnh là cơ quan thường trực củaHội đồng.

V. SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ NỘI DUNG KHÁC ĐỂ PHÙ HỢP VỚI THỰC TIỄN

1. Về nguyên tắc khen thưởng:

a) Về loại hình khen thưởng: Tại điều 4 của Luật thay cụm từ “Khen thưởng thường xuyên” bằng cụm từ “khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được”, theo đó quy định 4 loại hình khen thưởng gồm:

- Khen thưởng qua tổng kết thành tích các giai đoạn cách mạng;

- Khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được;

- Khen thưởng cống hiến;

- Khen thưởng đối ngoại.

b) Nguyên tắc trong thi đua, khen thưởng:

- Bổ sung nguyên tắc khen thưởng “…Không tặng thưởng nhiều hình thức cho một thành tích đạt được” (điểm b, khoản 2, điều 6), nhằm khắc phục tình trạng khen chồng chéo, trùng lắp.

- Bổ sung nguyên tắc về bình đẳng giới trong thi đua, khen thưởng (khoản 3, điều 6).

         Tại Điều 2, Nghị định quy định chi tiết thi hành đã cụ thể hóa một số nguyên tắc khen thưởng trong luật như sau:

- Thành tích đạt được trong điều kiện khó khăn và có phạm vi ảnh hưởng lớn được khen thưởng mức cao hơn.Chú trọng khen thưởng cá nhân là người trực tiếp lao động, công tác, chiến đấu (công nhân, nông dân, chiến sĩ) và cá nhân có nhiều sáng tạo trong lao động, công tác.

- Khi xét khen thưởng người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải căn cứ vào thành tích của tập thể do cá nhân đó lãnh đạo.

- Đối với nữ là cán bộ lãnh đạo, quản lý thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng có quá trình cống hiến được giảm 03 năm so với quy định chung.

Đối với khen thưởng thành tích thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn để xét khen thưởng thì lựa chọn cá nhân là nữ và tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xem xét khen thưởng.

- Thời gian để đề nghị khen thưởng cho lần tiếp theo được tính từ khi có quyết định khen thưởng lần trước.

c) Về thẩm quyền đề nghị khen thưởng

- Bổ sung quy định về thẩm quyền đề nghị khen thưởng Huân chương, Huy chương, Danh hiệu vinh dự nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước đối với Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Trưởng các Ban của Đảng và tương đương ở Trung ương, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

- Bổ sung quy định về thẩm quyền đề nghị khen thưởng Cờ Thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc đối với Chánh án Tòa án nhân dân nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Trưởng các Ban của Đảng và tương đương ở Trung ương, Tổng Kiểm toán Nhà nước. 

d) Về trình tự, thủ tục trình khen thưởng

- Bổ sung quy định về thủ tục trình khen thưởng từ cơ sở (khoản 1, điều 83), cụ thể là: Danh hiệu thi đua được bình xét và đề nghị từ đơn vị cơ sở thuộc cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã.

Cấp quản lý về tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hoặc người đứng đầu doanh nghiệp, hợp tác xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xét tặng danh hiệu thi đua hoặc trình cấp trên xét tặng danh hiệu thi đua, khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý.

- Bổ sung về Hồ sơ xét khen thưởng: Phải có biên bản xét khen thưởng (điều 84)

e) Khen thưởng cho đại biểu Quốc hội chuyên trách ở Trung ương:

Đoạn 2, khoản 2, điều 83 quy định: Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội trình khen thưởng huân chương, huy chương, danh hiệu vinh dự nhà nước cho đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương.

 



 
Tác giả : Nguồn: Ban Thi đua -Khen thưởng Trung ương
 
Bản quyền thuộc BAN THI ĐUA KHEN THƯỞNG TỈNH THÁI BÌNH
Địa chỉ : Số 08- Phố Lê Lợi - TP. Thái Bình, Thái Bình. Điện thoại : 0227.3834.292, Fax: 0227.3834.292 Email