CHÀO MỪNG QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE BAN THI ĐUA KHEN THƯỞNG TỈNH THÁI BÌNH                                                                                         ĐỒNG THUẬN CAO - THI ĐUA GIỎI - VỀ ĐÍCH SỚM
Tin mới cập nhật
Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, phương hướng đề ra
Phát biểu của đồng chí Đặng Trọng Thăng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh tại Kỳ họp thứ tám, HĐND tỉnh, khóa XVI

 
 
Số lượt truy cập:
 

Gương điển hình tiên tiến
TÍCH CỰC HƯỞNG ỨNG PHONG TRÀO THI ĐUA “LAO ĐỘNG GIỎI, LAO ĐỘNG SÁNG TẠO”

Cập nhật: 22/01/2013

    Năm 1996 tốt nghiệp trường công nhân cơ điện Tân Bình khóa D18 với bằng thợ bậc 3/7, tôi được xí nghiệp Khai thác công trình thủy lợi (KTCTTL) Quỳnh Phụ tuyển dụng làm công nhân quản lý vận hành cống Thượng Phúc I và cống Thượng Phúc II. Năm 2008, để nâng cao năng lực tưới, tiêu của công trình, Công ty xây dựng thêm cống Thượng Phúc III và giao cho chúng tôi quản lý. Ngoài ra còn tham gia công tác khơi thông dòng chảy trong phạm vi cụm và xí nghiệp. Trong quá trình công tác tôi luôn khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và là Đoàn viên gương mẫu của Chi đoàn thanh niên xí nghiệp.

Cống Thượng Phúc I, II, III là công trình đầu mối điều tiết tưới tiêu chính trong nội đồng của cụm Đông Yên Lộng cho diện tích 3.700ha, trong đó khoảng 2.000ha thuộc chân vàn thấp, trũng, phức tạp nhất trong công tác tưới, tiêu của huyện Quỳnh Phụ, đồng thời là nơi tập trung vật cản dòng chảy của toàn bộ sông Sành và các sông cấp 2, cấp 3 trong lưu vực. Một khó khăn khách quan nữa là thủy thế địa hình lưu vực sông Sành rất phức tạp, là sông tiêu chính nhưng lại quanh co gấp khúc, tưới đã khó khăn, tiêu lại càng khó khăn hơn.

Một khó khăn nữa do vị trí cống Thượng Phúc là nơi giáp ranh giữa 3 xã: An Ấp, An Vinh, Quỳnh Hội vừa hẻo lánh, xa khu dân cư nên vấn đề an ninh trật tự có nhiều phức tạp, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, điều kiện làm việc của bản thân cũng như do đặc thù của việc quản lý đường kênh là làm việc ngoài trời bất kể thời tiết nắng nóng, mưa gió hay giá rét. Những năm gần đây vật cản dòng chảy không chỉ có bèo bồng, dây muống mà còn nhiều rác thải ở các khu dân cư, trang trại, khu làng nghề, công nghiệp đổ xuống sông nên môi trường giải tỏa ô nhiễm nặng. Mặt khác, kinh nghiệm trong công tác chưa nhiều, chưa có điều kiện học tập nâng cao trình độ nên chưa có cái nhìn tổng quan về hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi của toàn huyện. Bù lại, Xí nghiệp KTCTTL Quỳnh Phụ là một tập thể đoàn kết, tình cảm đồng chí, đồng nghiệp chân thành cởi mở nên tôi luôn được các đồng chí lãnh đạo, các đồng nghiệp ân cần hướng dẫn, tạo mọi điều kiện, động viên khuyến khích giúp tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Vụ chiêm xuân các năm 2010, 2011, 2012 huyện Quỳnh Phụ triển khai thực hiện chủ trương 100% diện tích cấy lúa ngắn ngày nên kế hoạch điều tiết nước phục vụ lúa xuân đã được Xí nghiệp KTCTTL Quỳnh Phụ xây dựng chi tiết cụ thể, quán triệt cụ thể, đầy đủ đến toàn thể cán bộ, công nhân trong cơ quan và lãnh đạo các địa phương. Thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo Xí nghiệp về việc đảm bảo nguồn nước tưới, căn cứ tình hình, đặc thù địa hình đồng ruộng Quỳnh Phụ và tập quán canh tác của nhân dân địa phương tôi đã chủ động tham mưu với lãnh đạo xí nghiệp, bàn bạc với anh em đồng nghiệp có kế hoạch cụ thể, chi tiết trong việc lấy nước, giữ nước tưới. Đây là một khó khăn, một bước đột phá quan trọng trong công tác điều tiết nước phục vụ sản xuất, bản thân tôi và anh em công nhân luôn phải sát sao với đồng ruộng, công trình, không kể ngày, đêm, nắng, mưa, bão, gió.. để điều tiết hợp lý, đảm bảo yêu cầu sinh trưởng của cây trồng, góp phần thực hiện thắng lợi vụ chiêm xuân 2010, 2011, 2012 của huyện Quỳnh Phụ.

Vụ mùa năm 2010, 2011, 2012 với diễn biến bất thường của thời tiết, tôi cùng với các đồng nghiệp thực hiện theo phương châm “Tưới cạn lòng sông, tưới nông mặt ruộng”, bên cạnh việc đảm bảo điều tiết tưới, còn phải đối chọi với lượng mưa phân bổ không đều, tập trung vào những tháng cuối vụ với cường độ lớn đã gây ngập, úng sinh lý cho phần lớn diện tích lúa mùa trong cụm, mỗi năm 2 – 3 đợt, đặc biệt lượng rác thải dồn xuống sông ngày một nhiều nhiều. Đây là những khó khăn thách thức trong nhiệm vụ tưới tiêu của Xí nghiệp cho lúa mùa và cây vụ đông toàn huyện. Cùng với những khó khăn trên thì việc đắp đập để thi công kè mái sông Yên Lộng cũng là một khó khăn rất lớn trong công tác điều tiết nước tưới và giải phòng dòng chảy. Dưới sự chỉ đạo của Công ty KTCTTL Bắc Thái Bình và của UBND huyện Quỳnh Phụ, lãnh đạo Xí nghiệp KTCTTL Quỳnh Phụ tôi đã cùng tập thể cán bộ, công nhân Xí nghiệp từng bước khắc phục các khó khăn nêu trên để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nước tưới cho vụ mùa và vụ đông các năm 2010, 2011, 2012 đều được đảm bảo, giảm thiểu thiệt hại cho sản xuất cho bà con nông dân, làm tăng năng suất lúa của huyện đạt trên 13 tấn/ha/năm; trong đó năm 2011 năng suất cao nhất tỉnh, vụ đông đạt trên 6.000ha với năng suất, chất lượng cao.

Khi được giao nhiêm vụ giải tỏa toàn bộ các trục sông cấp II, bằng kinh nghiệm, lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ tôi đã trao đổi kinh nghiệm, hướng dẫn, trực tiếp tham gia giải tỏa, hỗ trợ đồng nghiệp những vị trí khó khăn. Kết quả mỗi năm đơn vị giải tỏa khoảng từ 2 đến 2,5 triệu m2 bèo bồng và vật cản dòng chảy, trên dưới 100 đăng đó, vó bè. Công trình do tôi phụ trách khoảng từ 7 đến 8 trăm nghìn mvật cản dòng chảy và hàng chục đăng đó nhưng vẫn hoàn thành đúng thời hạn, lòng sông thông thoáng hơn các năm trước, kịp thời góp phần nâng cao năng lực tưới tiêu của hệ thống công trình.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ tôi đã rút ra một số kinh nghiệm như sau:

1. Đối với công tác quản lý vận hành cống tôi có một nguyên tắc là: Bảo dưỡng thường xuyên, vận hành kịp thời, tuyệt đối an toàn. Tuyệt đối không chủ quan, lơ là, phối hợp chặt chẽ với chính quyền sở tại, sống gắn bó mật thiết với nhân dân địa phương và chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh của cấp trên. Đặc biệt trước những đợt mưa bão xảy ra tôi thường chủ động kiểm tra thiết bị máy móc, hệ thống đường điện, cầu dao, mở tiêu triệt để sau đó hạ thấp cánh cống nhằm ngăn bèo trôi ngược lại khi nước dồn, chống va đập giữ an toàn cho công trình trong bão. Sau bão kiểm tra phát hiện sớm hư hỏng thiệt hại để báo cáo lãnh đạo có phương án sửa chữa kịp thời.

2. Đối với công tác khai thông dòng chảy: Ngoài công việc quản lý vận hành 3 cống tiêu lớn tôi được phân công nhiệm vụ giải phóng dòng chảy trước cửa cống tiêu (với diện tích vật cản khoảng 23 đến 30 nghìn m2 mỗi đợt). Trên thực tế tôi đã thực hiện khối lượng công việc trên gấp nhiều lần. Mỗi lần tiêu nước vật cản dòng chảy trên toàn bộ sông Sành và các sông cấp 2 trong khu vực lại dồn về lên đến hàng nghìn m2.Những năm trước đây thì những đợt như thế cơ quan đã phải huy động mỗi đợt 6-8 người xuống để giải tỏa. Ngoài ra, tôi còn tham gia trong đội thanh niên xung kích tham gia phong trào “Giữ sạch lòng sông quê em” trên sông Sài Mỹ và các tụ điểm ách tắc khó khăn khác được Ban giám đốc Công ty và Xí nghiệp giao cho.

Trước các cửa cống tiêu tôi thường tận dụng triệt để những đợt tiêu lợi dụng sức nước, lợi dụng gió để đẩy bèo theo dòng chảy về hạ lưu. Trong nhiều năm làm công tác giải phóng dòng chảy tôi rút ra kinh nghiệm về biện pháp giải tỏa bèo bồng tối ưu nhất đó là lợi dụng nước chảy để đưa bèo trôi ra biển. Vấn đề thời cơ được đưa lên hàng đầu. Dù là nửa đêm hay gần sáng khi mà nước tiêu tốt với trách nhiệm trong công việc tôi thường giải quyết vài trăm mét vuông bèo giắt lại trước cửa các cống chỉ trong vài giờ. Nếu không tận dụng những cơ hội như thế thì sáng ra khi mà nước đã dừng tiêu thì bèo sẽ ở lại hàng nghìn m2, có thể phải đợi đến đợt tiêu sau. Như chúng ta đã biết, bèo bồng sinh nở theo cấp số nhân và không cẩn thận khi nước dồn về sẽ trôi ngược lại hàng km. Những lần đẩy bèo trong đêm tối tôi thường sử dùng đèn mỏ đeo trên trán rất thuận lợi khi làm việc vì vậy tôi đã tự sắm cho mình một bộ đèn chiếu sáng phục vụ cho công tác lúc đêm hôm.

Đối với các tụ điểm ách tắc trên sông câp I là các trà bèo do người dân quây lại hoặc cắm đăng lưới ngang sông để bắt cá, đứng trước sự đầu tư của người dân cho một trà bèo hay một cánh đăng phải mất từ 0,5 - 2 triệu đồng, đặc biệt là nguồn lợi từ đăng, trà mang lại, nên việc tháo dỡ cần phải làm cẩn trọng, tránh xảy ra mâu thuẫn, bởi vậy tôi và các đồng nghiệp trước mỗi đợt giải tỏa thường tham mưu cho Ban giám đốc Xí nghiệp ra thông báo kế hoạch giải tỏa trên các phương tiện thông tin đại chúng, sau đó chúng tôi phải rà soát các đăng, trà của mỗi gia đình rồi đến từng nhà vận động trước để người dân tự dỡ bỏ, hoặc cùng kết hợp tháo dỡ. Các trường hợp vận động không được chúng tôi mới đề nghị chính quyền xã vào cuộc kết hợp cùng tháo dỡ.

Kinh nghiệm cho thấy việc các hộ dân ven sông quây bèo làm trà (có những trà bèo rộng hàng vài trăm m2) là nguyên nhân khiến bèo bồng sinh sôi nảy nở nhanh trên các trục sông chính. Chúng tôi thực hiện phương châm: Làm sớm, làm thường xuyên, dọn triệt để, giữ cho lòng sông luôn luôn thông thoáng đã dần dần khiến các hộ dân cũng nhận thức được và thôi không quây bèo làm trà trở lại.

Một khó khăn nữa trong việc giải tỏa dòng chảy là hệ thống sông cấp I, II của Quỳnh Phụ có mặt thoáng rất rộng và sâu (điển hình là sông Sài Mỹ và sông Cầu Sa, một số đoạn sông Sành). Không có phương tiện thuyền thì những lần dọn bèo trên các trục sông này thường mất rất nhiều nhân lực mà hiệu quả không cao, lại nguy hiểm đến tính mạng người lao động. Tôi thường xuyên chủ động thuê phương tiện thuyền để làm và đã đề nghị cơ quan cấp phương tiện này để sử dụng nâng cao hiệu quả làm việc. Hiện nay cơ quan đã mua một chiếc thuyền chạy bằng động cơ Diegen 10 mã lực và giao cho tôi quản lý, để tiến hành kiểm tra, thực hiện công tác giải tỏa thường xuyên.

Bằng những việc làm của mình và sự quan tâm tạo điều kiện của Xí nghiệp, sự đồng cam cộng khổ của anh chị em công nhân, những năm qua công tác quản lý cống luôn đảm bảo an toàn, kinh phí tu bổ, sửa chữa công trình năm sau thấp hơn năm trước, được Công ty đánh giá là công trình xanh – sạch – đẹp. Công tác giải phóng dòng chảy do tận dụng đẩy bèo ban đêm nên số lượng công chi phí để đẩy bèo trước cửa cống Thượng Phúc I, II, III giảm 1/2 số công cần thiết để giải tỏa khối lượng vật cản dòng chảy qua công trình.Việc sử dụng phương tiện thuyền để giải tỏa và kiểm tra dòng chảy đã tiết kiệm được phần lớn nhân lực cần huy động giải tỏa do làm cả mùa đông lẫn mùa hè vì không phải lội, làm được lúc lượng vật cản dòng chảy chưa nhiều, công việc tháo dỡ đăng, trà cũng thuận tiện, dễ dàng hơn, cũng như giảm bớt sự vất vả cực nhọc cho người lao động./.

Tác giả : Hoàng Quốc Thương,Công nhân Công ty TNHH Một thành
 
Bản quyền thuộc BAN THI ĐUA KHEN THƯỞNG TỈNH THÁI BÌNH
Địa chỉ : Số 08- Phố Lê Lợi - TP. Thái Bình, Thái Bình. Điện thoại : 0227.3834.292, Fax: 0227.3834.292 Email